
Trích gia phả. Thứ Nam, Võ Văn Huy Hoàng, đã viết năm 2008:
Ảnh chụp 02/2008
|
![]() |
Võ Cát (tự là Mai)
Võ Địch (1934 - 1945)
Võ Nghi (chết trẻ)
Võ Thanh (chết trẻ)
Võ Thị Bọc (chết trẻ
1944)
|
Võ Sỏi
|
||
[1931 – 2013]
|
||
Thượng Sỹ Thường Vụ -
Quân cụ - Việt Nam Cộng Hòa
|
||
Nguyễn Thị Quyên (1924 – 1993)
- Võ Khánh Bình (1960)
- Võ Thị Lý Hoa (1961)
- Võ Đăng Qua (1963) mất sớm
- Võ Thị Lý Phượng (1965)
- Võ Thị Lý Phương (1967)
- Võ Văn Huy Hoàng (1971)
Sinh năm 1930 tại làng Lý Hòa, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bạn với Bà Nguyễn Thị Quyên, sinh năm 1924, con quan Tri Huyện Nguyễn Bá Dĩnh, người làng Thổ Ngọa, Ba Đồn, Quảng Trạch Quảng Bình. Mất ngày 5.2.1994 nhằm ngày 25 tháng chạp năm Quý Dậu.
Sinh ra trong một gia đình làm nghề Biển. Ông Nội tôi (Võ Điền) là người không biết chữ. Trong hoàn cảnh khó khăn, nên 5 người em khác của Cha tôi đều lần lượt qua đời từ rất sớm. Chú Võ Cát (tự là Mai) chết trong tháng. Chú Võ Địch, chết năm 1945, được 11 tuổi. Chú Võ Nghi chết lúc 1 năm tuổi, chú Võ Thanh chết khi mới được mấy tháng. Và O Võ Thị Bọc, chết lúc 8 tháng tuổi, vào năm 1944.
Vào nạn đói lịch sử năm 1945 thì Ông Bà Nội tôi cũng qua đời. Bà mất ngày 24/04/1945 nhằm ngày 13.3 âm lịch năm Ất Dậu. Ông mất trước Bà chừng một tháng, nên Ba tôi đã xin phép dùng chung một ngày húy cho cả Hai Ông Bà.
Những mốc thời gian chính:
1930 – 1945: còn nhỏ, ở nhà với Cha Mẹ
1945 – 1950: Ở với O Côi
1950 – 1954: đi lính
1954 – 1956; giải ngũ, hành nghề tự do.
1956 – 1959: làm biển, đi ghe với Bác Hàu, O Hến ở Mũi Né, Bình Thuận
1959 : lập gia đình, chuyển vào Sài gòn.
1960: chuyển về Nha Trang
1960 – 1965: Khánh Hòa, Pleiku, Buôn Ma thuột, Đăklak, Kontum…
1965 – 1969: Quy Nhơn.
1969: chuyển về Nha Trang
1969 – 1975: Nha Trang, Cam Ranh
1975 – 1977: làm biển ở Nha Trang với Chú Cải…
1977 – 1988: làm nghề tự do, đạp xe ba gác.
1988 – 2008: Nghỉ ở nhà với con cháu.
Sau khi Bà Nội tôi mất vào năm 1945, Cha tôi được 15 tuổi, mồ côi cả Cha lẫn Mẹ, và không còn ai ruột thịt, phải đi làm thuê để kiếm sống. Ông về ở với O Côi (dượng Mạu) khi đó thuộc gia đình khá giả trong làng, có ghe đi biển, giúp nấu cơm cho trai tráng đi biển.
Đến 1950, vừa tròn 20 tuổi, Cha tôi gia nhập quân đội, đi lính cho Pháp (legionaire – lê dương). Suốt trong thời gian này, ông cũng đi đây đi đó nhiều, qua các chiến trường khác nhau, có khi qua cả Lào. Chuyên môn chính trong thời gian này là Truyền tin – Thông tin – Liên lạc.
Đến năm 1954, đình chiến, hiệp ước Geneve, Ba tôi giải ngũ. Đất nước tạm thời chia cắt thành 2 miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Ba tôi đi vào Quảng Trị, Huế, và dần tới Đà Nẵng. Trong suốt thời gian này, Ba tôi làm bất cứ việc gì, miễn là để sống qua ngày. Vốn tính hoạt bát, Ông cũng tham gia các hoạt động đoàn thể, xã hội (giống như thanh niên xung phong bây giờ). Thời gian Ba tôi lưu lại ở Đà Nẵng là lâu nhất. Suốt thời gian này, Ba tôi vẫn nghe ngóng và cố gắng tìm kiếm bà con, dòng họ, hoặc người làng người nước có cùng hoàn cảnh.
Đến năm 1956 thì Ba tôi bắt liên lạc được với O Hến và Bác Hàu, lúc này đang làm biển trong Mũi Né, Phan Thiết, Bình Thuận. Trong năm này, thì Ba tôi chuyển vào Mũi Né, và đến ở với Bác Hàu.
Trong 3 năm liên tiếp 1956 – 1959, Ba tôi ở với Bác Hàu, nhưng Bác khuyên Ba tôi không nên theo nghề Biển, vì cho rằng nghề này “bạc” lắm, mà hướng Ba tôi theo nghề thợ may, hay thợ máy sửa xe cộ, ghe thuyền. Nhưng tính Ba tôi phóng khoáng, tự do, thích đi đây đi đó chứ không thích hợp với những công việc ngồi một chỗ, thế là Ba tôi giúp O Hến, theo các ghe bầu (thuyền buôn), buôn bán hàng hóa, cá mắm, tạp hóa ngược xuôi Phan Thiết – Bình Định – Sài gòn. Ngoài những chuyến đi buôn bán, khi có thời gian rãnh, Ba tôi cũng thỉnh thoảng có đi biển với mọi người. Bà con Quảng Bình vào định cư lập nghiệp trong Mũi Né rất đông, như Chú Đông, Bác Sàng, Bác Ba Điền, Chú Hai Trợ...
Nửa cuối năm 1959, Ba tôi gặp Má tôi, sau đó hai người chuyển vào Sài gòn sinh sống. Cũng trong năm này, Ba tôi đăng ký đi lính trở lại (tái ngũ). Anh trai đầu của tôi, sinh ra tại nhà thương Grall (nay là bệnh viện Nhi Đồng 2) vào năm 1960.
1960 Ba tôi chuyển cả nhà ra Nha Trang sinh sống, tại ngôi nhà số 04 Ngô Thời Nhiệm.
Do hoàn cảnh chiến tranh, nên Ba tôi phải di chuyển nhiều (theo đơn vị), nhưng nhà cửa thì vẫn ở tại Nha Trang. Suốt những năm từ 1962 – 1966, Ba tôi lần lượt theo đơn vị đóng quân ở khắp các tỉnh Tây Nguyên như Buôn Ma Thuột, Pleiku, Gia Lai, Quy Nhơn.
Cho đến năm 1969, lúc này, Ba Má tôi đã sinh hạ được 4 người con, Bình – Hoa – Phượng – Phương, Ba tôi mới xin chuyển về ở hẳn Nha Trang cho đến năm 1975. Phục vụ trong ngành Quân cụ, làm việc với 02 Đơn vị trưởng là Chú Như (hiện đang ở Sài gòn), sau đến chú Mão (hiện đang ở Nha Trang) với chức danh là Thường Vụ đơn vị, cấp bậc Thượng sỹ.
Sau ngày 02/04/1975, Ba tôi theo đơn vị di chuyển dần vào Sài gòn. Ba tôi có đem thêm Anh Bình và Chị Phương còn Má tôi ở lại Nha Trang với chị Hoa, Phượng và tôi. Sau này tôi cứ nghe Ba tôi kể lại rằng, khoảng 20 – 25/04/1975, Ba tôi cũng đã lên tàu thủy để chuẩn bị sang Hoa Kỳ, nhưng vì thương Má tôi còn lại một mình với 03 con nhỏ ở Nha Trang (Chị Hoa lớn nhất năm đó mới 14 tuổi) , và ông rất thương nhớ tôi (mới 4 tuổi) nên quyết định xuống tàu trở về, ra trình diện với chính quyền cách mạng. Cũng không biết lúc đó mà Ba tôi vẫn ra đi thì nay gia đình tôi có được đoàn tụ định cư bên Mỹ, hay ngược lại tàu lưu lạc trên biển khơi còn Má tôi và 3 chị em tôi không qua nổi những năm tháng khó khăn sau giải phóng (?). Âu cũng là số trời. Chỉ biết rằng, sau đó, mặc dù trải qua những năm tháng vô cùng khó khăn, nhưng cả Ba và Má tôi đã hết sức cố gắng, chịu đựng, hy sinh... để nuôi dạy chúng tôi nên người và lần lượt đưa cả 5 người vào được đại học !
Sau ngày 30/04/1975, Ba tôi có đi học tập một thời gian ngắn, rồi trở về làm biển trong khoảng 2 năm.
Thực ra thì Ba tôi chưa bao giờ yêu nghề Biển và có ý định chọn Biển làm nghề nghiệp chính, chẳng qua là trong những giai đoạn khó khăn hoặc không có sự lựa chọn nào khác.
Cho nên đến năm 1977, Ba tôi quyết định thôi làm biển ở nhà đi ba gác để kiếm sống. Ngày đó nhà tôi còn có được một cái ti vi đen trắng hiệu National. Tôi còn nhớ như in, vào một buổi chiều, tôi đang ngồi chơi trên chiếc xích đu trong sân nhà, nhìn thấy Ba tôi đi từ ngoài cổng vào, tôi liền hỏi: “Ba ơi, sao con không thấy cái ti vi nữa ?”. Trầm tư một lúc, Ba tôi trả lời: “Ba đã gắn cho nó 3 cái bánh xe và để ngoài cổng kìa”. Theo dấu tay ông, tôi nhìn thấy một chiếc xe ba gác. Có kiến thức về kỹ thuật, cơ khí, truyền tin... Ba tôi hoàn toàn có thể tìm một công việc kỹ thuật, nhẹ nhàng hơn để kiếm sống, nhưng ông là người rất khảng khái và cũng hơi có thiên hướng cực đoan nên không muốn hợp tác với chính quyền mới lúc đó mà chọn một công việc tự do và ít phụ thuộc (cho đến lúc lớn lên tôi mới hiểu được vì sao ông không chọn xích lô mà lại chọn ba gác).
Vậy mà, cùng với Má tôi (buôn bán ngoài chợ Xóm mới, từ khoai lang, gạo, tạp hóa... cho đến thuốc tây), Hai người đã từng bước, từng bước, nắm chặt tay nhau cùng vượt qua những khó khăn chất chồng để rồi lần lượt tiếp sức cho cả 5 anh em chúng tôi bước qua được ngưỡng cửa đại học.
Đến năm 1988, sau khi 2 anh Chị đầu của tôi là anh Bình và Chị Hoa đã tốt nghiệp đại học ra trường, Ba tôi chính thức được giải nghệ, ở nhà với con cháu, an hưởng tuổi già.
Từ đó đến nay, sống tại : 06 Ngô Thời Nhiệm, Nha Trang, Khánh Hòa.
Nha Trang, 1962
Năm 1962, thanh niên…32 tuổi…
Năm 2000, Lễ mừng thọ 70 tuổi:
Võ Khánh
Bình, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Võ Thuần Hậu, Ngô Văn Tụ, Võ Thị Lý Hoa, Võ Thị Lý
Phương, Võ Văn Huy Hoàng, Võ Thị Lý Phượng, Nguyễn Yên Phượng Vỹ, Nguyễn Yên
Sơn, Võ Khánh An, Ngô Võ Triết, Ngô Võ Phương Giang, Võ Nguyên Khang
Năm 2005, năm Ất Dậu lịch sử …(60 năm sau)
Nguyễn Yên
Sơn, Võ Thị Lý Phượng, Nguyễn Yên Phượng Dung, Ngô Võ Phương Giang, Võ Thị Lý
Phương, Võ Thị Lý Hoa, Ngô Văn Tụ, Võ Khánh An, Ngô Võ Triết, Nguyễn Thị Quỳnh
Nhi, Võ Minh Anh, Võ Văn Huy Hoàng, Nguyễn Yên Phượng Vỹ, Võ Nguyên Khang, Ngô
Võ Thuần Hậu





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét