Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

Điếu Văn

Điếu văn, đọc ngày 13/10/2013 trước lúc di Quan.
Nam mô Tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A di đà phật !
Nam mô Tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A di đà phật !
Nam mô Tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A di đà phật !

Kính lạy hương linh Ba,
Ba ơi, vậy là Ba đã ra đi mãi mãi ! … Dù bóng hình Ba vẫn còn hiện hữu trong tâm trí của tất cả chúng con. Chúng con như vẫn còn thấy Ba ở bên cạnh chúng con mọi lúc mọi nơi. Nhưng không, chúng con đã không còn được làm con của Ba trên cõi ta bà này nữa rồi !
Ba của chúng con, cụ ông Võ Sỏi, pháp danh Như Ngọc, sinh năm Tân Mùi trong một gia đình thuần lương làm nghề Biển ở làng Lý Hòa, xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đến năm 15 tuổi, trong trận đói lịch sử năm Ất Dậu 1945, Ông đã phải chịu đựng nỗi bất hạnh lớn nhất một đời người là phải lìa xa vĩnh viễn những người thân yêu nhất của mình, vì Ông Bà Nội, các Cô Chú đều đã ra đi và Ba đã trở thành người mồ côi, không anh chị em, không còn nơi nương tựa. Từ đó, Ba bước vào đời với tâm trạng của một đứa bé mồ côi như bài thơ “Đứa bé mồ côi” của nhà thơ Nguyễn Văn Cổn mà Ba đã chép lại một cách rất tỉ mỉ, trân trọng trong những trang nhật ký và được gìn giữ cẩn thận suốt những năm tháng dài của cuộc đời lưu lạc tha hương.

Đứa bé bơ vơ giữa chợ người, 
Chợ người rộn rịp chẳng quen ai,
Người ta qua lại người hờ hững,
Đứa bé mồ côi đứng lẻ loi.
Nét mặt gầy xanh ngấn lệ còn,
Bụi đường lem luốc má da non, 
Mắt đen mở lớn nhìn ngơ ngác
Chẳng hiểu vì đâu chịu khổ buồn!
Những năm đầu, Ba theo gia đình người bà con hành nghề ghe bầu xuyên Việt để kiếm sống.
Đến 1950, vừa tròn 20 tuổi, cũng vì mưu sinh Ba gia nhập quân đội, đi lính Lê Dương cho Pháp.  Suốt trong thời gian này, Ba được điều chuyển qua nhiều nơi, với chuyên môn chính là làm Truyền tin & Liên lạc.
Đến năm 1954, hiệp định Geneve được ký kết, Ba giải ngũ trở về cuộc sống thường dân, đi dần vào Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng để học hỏi tìm kế mưu sinh vừa tham gia các hoạt động đoàn thể, xã hội để tìm kiếm bà con, dòng họ, hoặc người cùng làng.
May thay, đến năm 1956 Ba đã gặp được các anh chị con Bác đang làm biển ở Mũi Né, Phan Thiết, Bình Thuận. Trong niềm hạnh phúc vô biên được gặp lại những người bà con ruột thịt, Ông quyết định vào Mũi Né Phan Thiết để lập nghiệp.
Sau bao nhiêu năm bôn ba vất vả, đây là khoảng thời gian vô cùng bình yên và hạnh phúc vì Ông được đùm bọc, thương yêu bởi các anh chị và bà con đồng hương ở Quảng Bình vào lập nghiệp.  Rồi duyên lành đã đến, Ba đã gặp gỡ và kết duyên với Má của chúng tôi cũng là đồng hương người Quảng Bình, quê làng Thổ Ngọa, Quảng Trạch vào năm 1959. 

Sau đó vì công việc chuyên môn, Ba Má đã sống ở Sài Gòn gần 2 năm và chuyển về Nha Trang làm ăn sinh sống từ năm 1960 đến nay. Kết quả của cuộc hôn nhân hạnh phúc, Ba Má tôi đã hạ sanh được 5 người: 2 trai, 3 gái.
Sau khi an cư ở Nha Trang, Ba làm việc trong ngành quân cụ của chế độ cũ nên cũng thường xuyên được điều chuyển đi công tác ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên như Ban Mê Thuột,  Pleiku, Gia Lai, Quy Nhơn.
Đến năm 1975, đất nước thống nhất; nhưng cũng như bao gia đình khác Ba cùng với Má đã bươn chải vô cùng vất vả với những nghề lao động hết sức cực nhọc để tiếp tục nuôi chúng con khôn lớn và ăn học thành người. Ông Bà chấp nhận đánh đổi những sản nghiệp quý giá đã tạo dựng trước đây để đầu tư tri thức cho các con. Kết quả trời không phụ lòng, chúng con học hành đến nơi đến chốn và có nghề nghiệp ổn định.

Trong niềm vui đất nước thống nhất, lòng Ông khởi lên niềm nguyện ước thiết tha là trở về quê Cha đất Tổ để tìm lại tông tích Ông Bà, Tổ tiên và những người bà con ruột thịt sau gần 30 năm ly quê.
Nhờ định hướng của bác Ba, người cũng đồng cảm trong trách nhiệm với Ông bà Tiên tổ, lại thuận duyên với người con trai út học hành thành đạt ở nước ngoài về, gia đình có đủ điều kiện để hoàn thành một số việc quan trọng như công trình quy tập & xây dựng khu lăng mộ 2 vị Hiển tổ tại làng Lý Hòa, Quảng Bình với hơn 30 ngôi mộ mà các anh, chị của Ông đã khởi công trước đó để trở thành Khu lăng mộ khang trang, biệt lập như ngày nay với 2 câu đối trước cổng, khẳng định di nguyện của các bậc Tiên Tổ và ước nguyện cũng như lời hứa của toàn thể cháu con: “Tiên Tổ Khai Cơ Ngời Hậu Thế - Tử Tôn Kế Nghiệp Rạng Tiền Nhân”.

Sau đó đến năm 2012, Ông tiếp tục cúng dường một pho tượng Phật Di lặc ở chùa Cảnh Tiên, làng Thổ Ngọa với tất cả tấm lòng thành của một nghĩa tế tri ân Nhạc phụ là Quan Tri huyện Nguyễn Bá Dĩnh.
Ba ơi, suốt cuộc đời Ba là một tấm gương sáng cho chúng con noi theo về lòng nhân hậu vị tha và bao dung, tính cương trực và ngay thẳng, lòng ham học hỏi, luôn tự học và nghị lực, khát vọng vươn lên trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nghiệt ngã nào để khẳng định và có vị trí của mình. Khi đã về chiều, Ba thực sự buông xả, không chấp nhất, thấm nhuần triết lý vô thường của nhà Phật, Ba sống an nhiên tự tại trong những ngày cuối đời và đã ra đi thanh thản.

Ba ơi !
Mây trời lồng lộng không phủ kín công Cha
Nước biển mênh mông không đong đầy tình Mẹ.
Trong chuyến rong chơi cuối cùng ở cõi tạm này, Ba đã dừng chân ở nhà con gái lớn và rể cả ở Quảng Ngãi được hơn hai tháng. Mặc dù vui với con cháu và chúng con đã hết lòng phụng dưỡng, nhưng thỉnh thoảng  lặng buồn, Ba vẫn muốn được về Nha Trang nơi mà Ba đã chọn làm quê hương thứ hai.
Và cách đây chưa đầy một tháng, anh em con đã bàn soạn việc cải tạo, mở rộng ngôi nhà thân yêu này – nơi mà năm anh em con đã cùng trải qua thời thơ ấu thật bình yên và hạnh phúc cùng với Ba Má - cho thật tiện nghi và phù hợp với tuổi tác để Ba được sống an vui những ngày cuối đời. Nhưng Ba ơi, chúng con vô minh nào đâu hiểu được đây đã là những ngày cuối cùng trong cuộc đời này của Cha già kính yêu… và có ngờ đâu Ba đã ra đi nhanh chóng đến như vậy!
Ba ơi !
Tất cả chúng con xin dập đầu tạ tội với Ba ! Vì mải lo bôn ba với cuộc sống nên vẫn chưa thỏa nguyện được ước vọng cuối cùng là đưa Ba về với mái nhà mà cả một đời Ba Má đã tạo dựng từ hơn nửa thế kỉ nay. Nhưng với tấm lòng độ lượng bao dung như Ba đã hằng, bởi vì “Sắc sắc không không là nguyên lý vô thường của bát nhã” chắc chắn Ba đã buông xả. Và Trời Phật đã thấu hiểu Phật tánh của Ba nên đã đưa Ba về với Ông Bà nhanh hơn chúng con suy tưởng.
Ba đã ra đi thật rồi sao Ba ơi!
Ba ơi! Ba hãy tin tưởng ở chúng con vì công lao dạy dỗ của Ba Má và phước đức để lại của Ba. Giờ đây tất cả chúng con đã yên phần, đã lần lượt thành nhân và cả thành danh như Ba Má hằng mong ước. Chúng con sẽ tiếp tục thương yêu đùm bọc và sẽ tiếp tục dạy bảo các cháu trưởng thành để giữ gìn truyền thống hiếu học và nề nếp hiếu hạnh của gia đình.
Với tất cả tấm lòng trân quý và tiếc thương vô hạn, chúng con xin vĩnh biệt Ba, người Cha vô cùng kính yêu của chúng con. Xin Ba hãy yên lòng thanh thản ra đi…
Chúng con, các cháu nhất tâm thống thiết nguyện cầu hồng ân mười phương chư Phật tiếp dẫn hương linh Ba về cõi vĩnh hằng.
Bóng hạc xe mây về cõi phật
Để lại trần gian phúc cháu con
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế giới Đại từ Đại bi Tiếp dẫn Đạo sư A di đà Phật.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế giới Đại từ Đại bi Tiếp dẫn Đạo sư A di đà Phật.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế giới Đại từ Đại bi Tiếp dẫn Đạo sư A di đà Phật.
Trưởng Nữ - Võ Thị Lý Hoa







Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét